Trang chủ Văn hóa Chùa Việt Nam Chùa Chuông – Danh lam cổ tự Phố Hiến

Chùa Chuông – Danh lam cổ tự Phố Hiến

69

Chùa Chuông có tên chữ là “Kim Chung tự” nằm tại thôn Nhân Dục phường Hiến Nam thị xã Hưng Yên.


Tương truyền vào một năm đại hồng thủy, có một quả chuông vàng trên một chiếc bè trôi vào bãi sông thuộc địa phận thôn Nhân Dục. Các nơi đua nhau kéo chuông về địa phương mình nhưng không được. Chỉ có những bô lão thôn Nhân Dục mới kéo được chuông.


Tăng ni, phật tử tại một ngôi chùa nhỏ trong thôn cùng các hương lão rất mừng, họ cho rằng trời phật ban cho quả chuông quý, liền bàn nhau góp công, góp của xây dựng lại chùa lớn hơn rồi làm lễ rước chuông vào chùa. Ai cũng vui mừng, háo hức nghe sư cụ trụ trì thỉnh hồi chuông đầu tiên. Khi hồi chuông vang lên, âm thanh trong sáng bay xa hàng ngàn, vạn dặm, vang động cả một vùng.


Người ta còn kể: Tiếng chuông vang xa tận phương Bắc và điều kỳ lạ là khi tiếng chuông ngân lên, những báu vật của người Nam lưu lạc ở Bắc Quốc (Trung Quốc) liền trỗi dậy đòi về.


Bọn vua quan Bắc triều rất lo lắng, vì ngày nào tiếng chuông còn được thỉnh thì những báu vật mà chúng cướp được sẽ về hết với chủ cũ, nên bọn chúng đã sang đất Việt, đóng giả làm những cao tăng, tìm đến chùa hòng lấy cắp chuông vàng.


Biết được dã tâm của chúng, các tăng ni giấu chuông vàng xuống một giếng nhỏ. Dần dần, những người mang chuông đi giấu đều viên tịch, hậu thế muốn tìm lại chuông nhưng không thấy. Để ghi nhớ ngôi chùa đã từng có một quả chuông quý, các tăng ni phật tử và nhân dân trong vùng đặt tên chùa là Kim Chung Tự.


Chùa Chuông được xây dựng từ thời Lê (thế kỷ 15). Năm 1707, chùa được trùng tu lớn với quy mô hoàn chỉnh của chùa Việt Nam thời Hậu Lê.


Chùa Chuông có kết cấu kiểu “Nội công ngoại quốc”, bao gồm các hạng mục: Tiền đường, Thượng điện, Nhà tổ, Nhà mẫu và 2 dãy hành lang. Mặt tiền chùa quay hướng Nam, đó là hướng của “Bát Nhã” và “Trí Tuệ”. Chùa được bố trí cân xứng trên một trục trải dài từ cổng Tam quan đến Nhà tổ.


Qua cổng Tam quan là tới ba nhịp cầu đá xanh, bắc ngang qua ao (mắt rồng), cây cầu được xây dựng năm 1702. Tiếp đến là con đường độc đạo được lát đá xanh dẫn thẳng đến nhà tiền đường, theo quan niệm nhà Phật, đường này gọi là “Nhất chính đạo”, con đường chân chính duy nhất dẫn dắt con người thoát khỏi bể khổ.


Nhà Tiền đường có quy mô 5 gian 2 dĩ, kết cấu kiến trúc kiểu con chồng đấu sen, nối giữa tiền đường và thượng điện là khoảng sân, giữa sân có cây hương đá còn gọi là “Thạch trụ”, bốn mặt khắc chữ Hán ghi công đức của nhân dân đóng góp tu sửa chùa.


Thượng điện cũng gồm 5 gian 2 dĩ, kết cấu giống nhà Tiền đường, mang đậm nét kiến trúc thời Hậu Lê. Hệ thống tượng ở thượng điện được bài trí theo thứ tự: Trên cùng là 3 pho Tam Thế; tiếp đến là A Di Đà và tứ Bồ Tát; lớp dưới là Văn Thù và Phổ Hiền; tiếp theo là Ngọc Hoàng và Nam Tào, Bắc Đẩu; tiếp nữa là Địa Tạng Vương và Phạm Thiên, Đế Thích; sau cùng là tòa Cửu Long và tượng Thích Ca sơ sinh.


Ở hai đầu phía Đông và phía Tây nối Nhà Tiền đường và Nhà Mẫu là hai dãy hành lang, kiến trúc kiểu kèo cầu quá giang đơn giản. Hai dãy hành lang được bài trí đối xứng các lớp tượng khác nhau. Đầu tiên là động “Thập điện Diêm Vương”, diễn tả cảnh nhục hình mà con người phải trải qua nơi âm giới. Đây là triết lý nhân quả của nhà Phật, người ta tin rằng con người sống trên dương thế, khi từ giã cõi đời phải trải qua 10 cửa điện để Diêm Vương xét hỏi công và tội. Ứng với mỗi tội đồ là một hình phạt tương ứng.


Mục đích dựng Thập điện Diêm Vương là khuyên răn con người sống trên đời cần tu nhân tích đức, làm điều thiện, tránh điều ác. Tiếp đến là tượng Bát Bộ Kim Cương, sau đó là 18 pho “Thập Bát La Hán”, 18 vị được tạo tác trong tư thế ngồi rất sinh động, rất đời thường. Nét độc đáo của tượng “Thập Bát La Hán” không phải chỉ ở sự khéo léo trong cách tạo tác mà còn ở cảm xúc nội tâm được biểu hiện qua từng khuôn mặt buồn, vui, trầm tư… mỗi người một vẻ. Cuối dãy hành lang là tượng Đức Ông đứng cạnh có Già Lan – Chân Tể và tượng Đức Thánh Hiền, đứng cạnh có Diệm Nhiên – Đại Sỹ.


Một trong những hiện vật có giá trị nhất còn lưu giữ lại chùa là tấm bia đá dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 7 (1711), bia ghi tên những người công đức tu sửa chùa. Phần đặc biệt của bia ghi lại cảnh đẹp của Phố Hiến và một số phường, như: Phường Hàng Bè, Hàng Sũ, Thợ Nhuộm, Cự Đệ, Hàng Thịt… mà ngày nay khó có thể tìm thấy trên bia đá.