Giải đáp thêm một số thắc mắc về thiền Tứ Niệm Xứ (Phần 2)
image

Các phật tử luôn luôn thắc mắc muốn biết Niết bàn là gì nhưng không một người chứng đắc nào mô tả nó. Nếu nó là một trạng thái của tâm, vậy tại sao lại không thể mô tả được nó một khi đã có kinh nghiệm với nó?

Không phải! Niết bàn là trạng thái vô tham, chứ không phải là một trạng thái của tâm. Niết bàn là đối tượng của tâm đạo, tâm quả siêu thế, vì vậy không thể diễn tả được trạng thái Niết bàn bằng ngôn ngữ thông thường. Ngay cả Đức Phật, Ngài cũng chỉ nói rằng Niết bàn là điều không thể nghĩ bàn.

Lấy một ví dụ trong pháp hành để bất cứ một hành giả hành thiền Vipassana có thể hình dung được. Đó là trong những lần trình pháp, hành giả thường cảm thấy rất khó hoặc hầu như bất lực trong việc dùng lời để diễn tả những pháp sanh diệt mà mình kinh nghiệm được trong quá trình hành thiền cho thiền sư của mình nghe, mặc dù nhiều lúc phải dùng cả ngôn ngữ cơ thể để phụ trợ. Lý do là dù cố gắng cách mấy đi nữa, hành giả vẫn không tìm được ngôn từ thích hợp để mô tả chính xác những gì mình muốn nói. Tại sao vậy? Vì những gì mà hành giả kinh nghiệm được trong pháp hành thuộc về chân đế hữu vi, do đó không thể dùng các khái niệm tục đế để mà diễn tả được nó. Ngay cả cái nóng, lạnh là cái rất bình thường vì ai cũng biết, nhưng cái nóng, cái lạnh mà hành giả trực nhận trong pháp hành cũng rất khác với cái nóng, cái lạnh trong đời thường. Rất may là các thiền sư đều là những người đã từng trải qua những kinh nghiệm này nên các ngài có thể nắm bắt được ngay những gì thiền sinh muốn trình bày. Điều đó cho chúng ta thấy rằng dùng các khái niệm tục đế để diễn tả các pháp thuộc về chân đế hữu vi còn khó như vậy, huống chi là để diễn tả Niết bàn, một pháp siêu thế thuộc về chân đế vô vi! 

Lấy một ví dụ ở ngoài đời để những ai chưa thực hành Vipassana có thể hình dung được. Chẳng hạn có một người nước ngoài chưa hề biết trái sầu riêng và chưa hề ăn loại trái này, chúng ta mô tả làm sao đây để cho ông ta có thể hình dung được trái sầu riêng và mùi vị đặc trưng của nó? Chúng ta có thể nói nó là một loại trái có vỏ cứng và dày, có gai nhọn và dài, hình bầu dục, đường kính chừng khoảng 15- 20 cm, có mùi thơm rất nồng, khi tách ra có cơm màu vàng, có hạt bên trong, cơm của nó ăn rất béo và có vị ngọt dịu. Sau đó một thời gian, chúng ta đem trái sầu riêng thực sự đến để trước mặt ông ta, nhưng không cho ông ta biết đó là trái sầu riêng, liệu ông ta có nhận ra được đó là trái sầu riêng và mùi vị đặc trưng của nó nhờ vào sự mô tả của chúng ta trước đó hay không? Hay là dựa vào mô tả của chúng ta, ông ấy đã hình dung ra trái sầu riêng ở một dạng khác, có một mùi vị khác nên khi chúng ta đem trái sầu riêng thực lại để trước mặt ông ta, ông ấy vẫn không thể nhận ra? Cách tốt nhất để cho ông ta biết trái sầu riêng hình dạng ra sao, mùi vị như thế nào là đưa nguyên trái sầu riêng ra cho ông ta xem tận mắt và mời ông ta nếm mùi vị của nó.
 
Đó là lý do các thiền sư không cố gắng giải thích Niết bàn, vì sợ rằng việc dùng các khái niệm tục đế để giải thích Niết bàn một cách gượng ép chẳng những không giúp cho những người chưa qua kinh nghiệm hình dung được trạng thái Niết bàn thực sự là như thế nào mà còn   tạo ra những định kiến lệch lạc trong trong tâm trí họ, khiến họ có thể bị lầm đường lạc lối khi nghĩ về nó. 
 
Xin Sư nói rõ về các tầng đạo quả. 
 
-          Bậc thánh Tu Đà Hườn đắc tầng thánh đầu tiên (sơ đạo, sơ quả). Vị này đoạn trừ được 30% phiền não gồm ba kiết sử đầu tiên là thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ.
 
  • Thân kiến: Hành giả không còn chấp cái thân này là của ta
  • Hoài nghi: Đây không phải là hoài nghi những chuyện linh tinh ngoài đời mà hoài nghi về Phật , Pháp, Tăng, Tam Bảo. Chẳng hạn như có Phật hay không có Phật, có Giáo Pháp hay không có Giáo Pháp, có Tăng Già hay không có Tăng Già, có nhân quả hay không có nhân quả, có luân hồi tái sanh hay không có luân hồi tái sanh.
  • Giới cấm thủ: Vị này không còn chấp vào lễ nghi, cúng kiếng và những gì mà không do Đức Phật cấm chế hoặc chế đinh mà chúng ta bo bo giữ mãi. Năm giới trong sạch một cách tự nhiên. Có nghĩa là với bậc thánh Tu Đà Hườn, ý muốn sát sanh không còn khởi sanh, ý muốn trộm cắp không còn khởi sanh, ý muốn tà dâm với chồng, vợ, con cái người không còn khởi sanh, ý muốn nói dối không còn khởi sanh, ý muốn dễ duôi uống rượu và các chất say không còn khởi sanh. 
-          Bậc thánh Tư Đà Hàm đắc tầng thánh thứ hai. Vị này đoạn trừ được 35% phiền não. Tương tự như bậc thánh Tu Đà Hườn, bậc thánh Tư Đà Hàm đoạn trừ hoàn toàn ba kiết sử đầu tiên là thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ. Riêng hai kiết sử tiếp theo  dục ái và sân thì chỉ mới giảm nhẹ.
 
-          Bậc thánh A Na Hàm đắc tầng thánh thứ ba đoạn trừ hoàn toàn năm kết  sử đầu tiên thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục ái và sân.
 
Đến đây hành giả tiếp tục phát triển thiền quán để đoạn trừ thêm năm kiết sử sau cùng là ái sắc, ái vô sắc , ngã mạn, phóng dật và vô minh để chứng đắc A La Hán, tầng thánh thứ tư. Đến đây hành giả hoàn toàn giác ngộ. 
 
Nhiều người nói rằng việc tu tập đạt đến Giác ngộ- Niết bàn quá khó khăn, hầu như không thể đạt tới được. Sư nghĩ sao về vấn đề này? 
 
Việc tu tập đạt đến Giác ngộ - Niết bàn, nói khó thì cũng không phải khó, mà dễ cũng không phải dễ, còn tuỳ vào Ba la mật và sự tinh tấn của mỗi người, nhưng nếu kiên trì thì sẽ có ngày đạt được, nếu không thể ngay trong kiếp sống này, thì nhất định sẽ đạt được  trong những kiếp sống sau.
 
Đức Phật có dạy có bốn hạng người:  “có người hành nan, đắc nan; hành dị, đắc dị; hành nan, đắc dị;  hành dị, đắc nan” tuỳ theo căn cơ của chúng sanh.
 
Tuy nhiên, nếu cho rằng Giác ngộ - Niết bàn là cái đích quá xa, gần như không thể với tới được thì hành giả có thể tu tập Vipassana cho một mục đích ngắn hơn, có thể đạt được ngay trong kiếp sống này,  vì nó nằm trong tầm tay: Đó là hành tập Vipassana cho tới khi thấy được các tuệ sanh diệt của danh sắc vận hành trong thân và tâm (tuệ 4). Theo hoà thượng Kim Triệu, một bậc chứng đắc của Việt Nam, hiện đang trụ trì Thích Ca Thiền Viện tại Hoa Kỳ, thì tu tập đạt tới trình độ này, nếu hành giả tiếp tục đi tới, thì hành giả sẽ đắc đạo quả trong thời kỳ giáo pháp của Đức Phật Thích Ca. Nếu vì một lý do nào đó, hành giả không tu nữa, hành giả sẽ đắc đạo quả trong thời kỳ giáo pháp của Đức Phật Di Lặc. Điều này có nghĩa là, hành giả đã nắm được chiếc  vé cho chuyến tàu giải thoát cuối, vì Đức Phật Di Lặc là vị Phật cuối cùng của quả địa cầu. 
 
Gần đây, con xem cuốn “Từ Chánh niệm đến Giác ngộ” của  thiền sư Ajhan Brahm, trong đó ngài có nói rằng tu tập Tứ Niệm Xứ, muốn đạt được giải thoát thì phải nhập định, vì nhập định phát sinh chánh niệm “cực mạnh” mới có thể hạ gục được năm triền cái. Nếu không qua nhập định mà hành tập Vipassana, thì hành giả chỉ đến tuệ xả (tuệ 11)  và đến gần với nhập định, nhưng không đưa đến giác ngộ.  Là một người hành tập Tứ Niệm Xứ trên nền tảng cận định, con rất hoang mang.  Xin sư cho biết ý kiến của sư về vấn đề này?
 
Tuỳ theo căn cơ của chúng sanh, Đức Phật đã dạy hai đạo lộ. Đạo lộ đầu được gọi là đạo quả có thiền. Theo đạo lộ này, hành giả tu định trước, rồi sau đó xả định để phát triển qua quán. Đạo lộ thứ hai là đạo quả không thiền hay còn gọi là thiền khô. Theo đạo lộ này, hành giả chỉ cần tu đạt tới cận định và sau đó phát triển qua quán trên nền tảng của cận định và sát na định. Đạo lộ nào cũng có những ưu điểm và nhược điểm của nó. Hành giả chọn đạo lộ nào tu là tuỳ theo căn tánh của mình. 
 
1/ Đạo lộ đạo quả có thiền:
 
Ưu điểm: Hành giả phải nhập định để chứng đắc các tầng thiền (từ sơ thiền đến tứ thiền) rồi xả thiền định ra để chuyển sang phát triển quán. Do lúc này hành giả đã có một năng lực định rất mạnh mẽ nên hành giả có thể hạ gục năm triền cái một cách dễ dàng bằng cách lấy danh, sắc và ngũ uẩn làm đối tượng để phát triển 16 tầng tuệ Minh Sát. Chính vì vậy, các hành giả đã nhập định khi chuyển qua tu quán đắc đạo đắc quả rất nhanh. Tu định rồi phát triển sang quán ví như phiền não là một cái cây, hành giả là  một người có đủ sức mạnh nên nhổ bật được nó, gồm cả rể chính lẫn các rễ phụ.
 
Nhược điểm:
 
-          Không phải ai cũng có khả năng nhập định. Nhiều hành giả tu tập thiền định rất lâu năm nhưng vẫn dừng lại ở mức giữ cho tâm mình được vắng lặng mà thôi.
 
-          Muốn nhập định phải có môi trường yên tĩnh thích hợp. Thường thì phải vào sâu trong rừng nơi không có tiếng máy bay và cưa máy. Ngay cả thiền viện Phước Sơn rộng như vậy, mỗi người ở một cốc, nhưng cũng không phải là nơi thích hợp để nhập định vì vẫn còn nghe thấy tiếng còi xe, tiếng máy bay và tiếng động chung quanh. 
 
2/ Đạo lộ đạo quả không thiền:
 
Ưu điểm: Hành giả không cần nhập định. Do đạo lộ này chỉ cần hành giả có cận định và sát na định nên hầu như ai cũng có thể thực hành được và hầu như ở đâu cũng có thể thực hành được.
 
Nhược điểm: Hành giả phải đối mặt với năm triền cái hàng ngày, hàng giờ trong lúc sinh hoạt khi chánh niệm còn yếu ớt nên thỉnh thoảng hành giả sẽ bị những cú shock về thân và tâm. Để đối phó với năm triền cái, hành giả quán sát chúng theo lời của Đức Phật dạy:
 
“Nội tâm vị ấy có tham dục cái, vị ấy biết nội tâm có tham dục cái. Nội tâm vị ấy không có tham dục cái, vị ấy biết nội tâm của vị ấy không có tham dục cái;tham dục cái chưa sanh nay đã sanh, vị ấy biết rõ; tham dục cái đã sanh đang được đoạn trừ, vị ấy biết rõ;    tham dục cái đã đoạn trừ, tương lai không khởi sanh, vị ấy biết rõ.”
 
Hành giả quán sát tương tự như vậy với sân độc cái, thuỵ miên cái, trạo hối cái và hoài nghi cái. Đức Phật dạy đây là Pháp Quán Niệm Xứ.
 
Nhờ quán sát như vậy, chánh niệm dần dần vững mạnh và hành giả sẽ trưởng thành trong giáo pháp; lúc đó  hành giả cũng sẽ đủ sức bứng được tận gốc rễ năm triền cái. Tu quán không cần nhập định ví như phiền não là một cái cây, hành giả là người không đủ sức mạnh nên không thể nhổ bật cây lên, mà phải từ từ dùng chánh niệm cắt dần dần các rễ phụ trước cho đến khi cây chỉ còn rễ chính, lúc đó chỉ cần một cái đẩy nhẹ là cây bị đổ. 
 
Vào thời Đức Phật còn tại thế, chính nhờ Ngài đưa ra hai đạo lộ như vậy, mà có rất nhiều cư sĩ, ngay cả tu sĩ đã hành tập Tứ Niệm Xứ và chứng đắc đạo quả qua đạo lộ thứ hai này.
 
Nếu cho rằng vấn đề này không thể lý luận suông mà phải đưa ra bằng chứng rõ ràng thì  bản thân Sư đây là một người tu quán trên nền tảng cận định, không qua nhập định, nhưng vẫn được kết quả. Ngay tại Việt Nam, sư biết hiện nay có trên dưới 10 cư sĩ cũng hành tập Tứ Niệm Xứ không qua nhập định cũng đạt được kết quả tốt. Tuy nhiên đó chỉ là những người sư biết, con số thực tế chắc chắn phải nhiều hơn…. Nói đây không phải là mục đích khoe pháp, mà cốt để cho hành giả có lòng tin để ngày càng tinh tấn trong pháp hành.  Nhìn ra thế giới bên ngoài ta thấy hiện nay ở Thái Lan có ngài Ajahn Suphan, viện trưởng tu viện Rampoen (Tapataram), Ấn Độ có ngài S.N Goenka là một cư sĩ, Việt Nam có hoà thượng Kim Triệu, ở Miến Điện có ngài U Pandita, viện trưởng thiền viện Panditarama, ngài Utejanjya trụ trì thiền viện Shwe Oo Min… đều là những bậc chứng đắc không qua nhập định. Đây là những vị còn hiện tiền và chúng ta có thể dùng các ngài  làm niềm tin để tinh tấn tu tập. 
 
Điều này cũng chứng minh rằng Giác ngộ - Niết bàn là con đường có thật và Giáo Pháp của Đức Phật để lại cho chúng ta chưa hề bị mai một, vẫn còn nguyên vẹn như thời còn tinh khôi của nó. Nếu còn có người dựa vào Bát Chánh Đạo để tu tập thì vẫn còn có người đắc đạo đắc quả vì Bát Chánh Đạo không nằm trong Kinh điển mà nằm ngay trong mỗi chúng ta. 
 
Xin Sư nói cho chúng con rõ lộ trình đắc đạo, đắc quả của Đức Phật 
 
Căn cứ vào Kinh điển thì sau khi Đức Phật nhập, xuất đủ bát thiền, Ngài xả định và phát triển qua thiền quán. Đức Phật quán vòng Thập nhị nhân duyên (vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập,lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên cho lão tử, lão tử duyên cho sầu bi, khổ não, sầu bi duyên vòng lại cho vô minh). Đức Phật quán xuôi rồi quán ngược và đắc Lậu tận minh. Bậc Đại Trí Tuệ đã đắc Giác ngộ qua đề mục Pháp Quán Niệm Xứ. 
 
Như vậy nếu chúng ta ngày nay nhập định và muốn kinh nghiệm Niết bàn cũng phải thực hành y như Đức Phật, có nghĩa cũng phải xả định để phát triển qua quán. Mọi hình thức tu tập không  qua phát triển các tầng tuệ Minh sát , nếu cho là có kinh nghiệm Niết bàn, thì kinh nghiệm đó không có cơ sở. 
 
Điểm ưu việt của hành giả có năng lực nhập định là khi xả định chuyển qua phát triển quán thì họ có khả năng kinh nghiệm Niết bàn rất nhanh, so với các hành giả tu theo đạo lộ thiền khô. Người đắc đạo, đắc quả qua đạo lộ đạo quả có thiền cũng thù thắng hơn người tu theo đạo lộ thiền khô vì ngoài đạo quả đạt được họ còn có thêm các "sản phẩm phụ" là thần thông, thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông và túc mạng thông.
 
Một điểm quan trọng cần phải nhấn mạnh trong hành tập Vipassana là tu tập nhằm đạt được một cái tâm thuần tịnh, trong sáng không phải là mục đích chính, đưa đến cứu cánh–vì điều này không đủ; cái quan trọng mà hành giả cần phải đạt được là thấy được sự sanh diệt của danh, sắc và ngũ uẩn nhằm kinh nghiệm tam tướng vô thường, khổ và vô ngã ngõ hầu giác ngộ Tứ Diệu Đế. Bất cứ một pháp một tu tập nào nhằm đạt được một cái tâm thuần tịnh, trong sáng mà không thấy được sự sanh diệt của danh, sắc và thì kinh nghiệm đạt được đó chắc chắn không phải là Niết bàn. 
 
Với những đọc giả PTVN đang hành tập Tứ Niệm Xứ hay những người chưa thực hành nhưng đang quan tâm, nghiên cứu pháp môn này, Sư có muốn nhắn nhủ gì nhân dịp đầu năm mới? 
 
Thiền Vipassana là một phương pháp thanh lọc thân và tâm đặc biệt do Đức Phật khám phá ra. Ngài đã bỏ ra 20 A tăng kỳ và 100 ngan đại kiếp trong vòng sinh tử luân hồi để kiện toàn đầy đủ 30 pháp Ba la mật nhằm có đủ trí tuệ để khám phá pháp môn này. Thực hành thiền Tứ Niệm Xứ, hành giả sẽ thực chứng những lời dạy của Đức Phật là cụ thể, rõ ràng, không hư dối, toàn hảo đoạn đầu (pháp học), toàn hảo đoạn giữa (pháp hành) và toàn hảo đoạn cuối (pháp thành). 
 
Con xin cảm ơn Sư. Nhân dịp năm mới, con xin thay mặt đọc giả PTVN chúc Sư được dồi dào sức khoẻ, có chánh niệm và  trí tuệ hiểu biết ngày càng phát triển thâm sâu. 
 
Cám ơn cô. Sư cũng xin chúc cô và quí đọc giả dồi dào sức khoẻ và hưởng một năm mới an lành, luôn luôn có trí nhớ chánh niệm tỉnh giác để luôn luôn thấy rõ thực tướng, thực tánh của  sự sanh diệt của các pháp là vô thường, khổ và vô ngã trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi để sớm đắcTứ thánh đạo, Tứ thánh quả và Niết bàn. Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Bài viết này không có từ khóa nào

Thư từ,  bài viết, hình ảnh xin gửi về địa chỉ: banbientap@phattuvietnam.net. Để xem hướng dẫn viết, gửi bài và đăng ký cộng tác viên, xin bấm vào đây. Đường dây nóng: 0904.087.882 (Phật sự Hà Nội); 0989.047.041 (Phật sự TP. Hồ Chí Minh); 0907.678302 (Phật sự Tây Nguyên); 0983.376.774 (Phật sự Hải Phòng).

Subscribe to comments feed Phản hồi (7 bài gửi)

Supanna 24/02/2010 20:10:31
Kính gửi: Quế Chi

Supanna đã nhờ Kisagotami Ngọc Liên, một hành giả có kinh nghiệm trong pháp hành, trả lời về thắc mắc của Quế Chi tại sao “tu theo con đường giải thoát của Đức Phật, để giải thoát mình khỏi đau khổ và phiền não mà khi tu tập lại khổ tâm và khổ thân?”

Trong quá trình tu tập TNX, có khổ tâm và khổ thân, nhưng thực ra tuy khổ mà lại không khổ.

Tu tập TNX là để đạt đến Giải thoát - Niết bàn, muốn Giải thoát – Niết bàn chúng ta phải diệt trừ tận gốc phiền não. Đức Phật dạy chúng ta phải nhìn thẳng phiền não để diệt trừ tận gốc phiền não, vì vậy hành giả tu tập TNX phải luôn luôn quan sát phiền não trong thân và tâm hàng ngày, hàng giờ. Tâm lý chung của tất cả chúng ta là muốn hạnh phúc, chúng ta không thích đối mặt với phiền não, khi chúng ta gặp phiền não, chúng ta thường “lờ” chúng, vì vậy lúc nào cũng phải đối mặt với phiền não theo cách hành tập của TNX sẽ làm cho nhiều người nghĩ rằng hành giả sẽ bị mệt mõi và căng thẳng, khổ tâm và khổ thân.

Thật ra hành giả hành tập TNX không bị quẳng ra đấu trường đối mặt với phiền não (có tuổi thọ còn lớn hơn các cụ tổ của chúng ta nữa do tích luỹ trong bao nhiêu đời kiếp) mà không có trang bị một tí kỹ năng “chiến đấu” nào hết. Ngay trong bước đầu hành tập, hành giả đã được hiểu thế nào “vô ngã” khi quán sát hơi thở. Lấy ví dụ bản thân của Ngọc Liên, khi thả lỏng hơi thở, để cho hơi thở đi ra đi vào một cách tự nhiên, và theo dõi cảm giác của hơi thở khi chạm vào điểm xúc chạm, đến một lúc nào đó, Ngọc Liên trực nhận ra rằng không có ai (tôi, ta) đang thở ở đây hết vì hơi thở đi ra đi vào lúc ngắn, lúc dài, lúc thô, lúc tế qua cửa mũi theo qui luật tự nhiên của nó, mình muốn ngưng thở cũng không được. Lúc đầu Ngọc Liên còn thấy hơi thở còn đi ra đi vào qua điểm xúc chạm, sau một thời gian tinh tấn theo dõi, quan sát hơi thở thì thấy hơi thở thật ra không đi qua một điểm mà chạy tùm lum, có khi nó chạy lòng vòng theo hình tròn, hoặc hình số 8 trước cửa mũi. Muốn gom hơi thở về một điểm (xúc chạm cũng không được). Đây là bài học đầu tiên về vô ngã.


Bài học thứ hai là về vô ngã mà Ngọc Liên có được là khi ở tầng tuệ một và hai (tuệ Phân biệt Danh Sắc và tuệ Phân biện Nhân Duyên), qua hai tầng tuệ này Ngọc Liên hiểu không có tôi, ta gì trong cái thân này cả, chỉ có tâm hay biết và thân (tâm và đối tượng của nó). Chẳng hạn, khi chúng ta muốn uống nước, trước hết, tâm chúng tác ý muốn uống nước, để lấy ly uống, tâm của ta phải có tác ý với tay ra để lấy ly, hoặc đơn giản nhất là muốn đưa tay ra thì tâm phải có tác ý là muốn đưa tay ra, rồi nó mới điều khiển cho tay đưa ra…quá trình này chỉ hoàn toàn xảy ra giữa tâm và thân. Ở đây tác ý khởi lên trong tâm là nhân, hành động thực hiện bởi thân là quả. Điều này rất dễ nhận ra khi đi thiền hành, tâm tác ý muốn đi và tâm điều khiển chân bước. Trong khi thiền hành, trong khi chăm chú theo dõi cử động của các bắp thịt ở chân, sự chuyển động của mắt cá chân, cảm giác nóng, lạnh, mềm, cứng, ướt , khô của bàn chân khi đặt lên sàn nhà, Ngọc Liên trực nhận ra chẳng có ai đi thiền hành ở đây cả, chỉ có cái thân di chuyển và cái tâm hay biết đang theo dõi cái thân đi.

Khi đi đến tầng tuệ bốn phân tích tứ đại, Ngọc Liên là một người thuận về nguyên tố gió nên người thường xuyên rung, xoay và lắc. Nếu bình thường thì chắc khó chịu lắm, nhưng nhờ những kinh nghiệm có được trong pháp hành, Ngọc Liên hiểu rằng cái thân nó lắc là tự ý của nó, Ngọc Liên đâu có tác ý biểu nó lắc đâu, nếu mình không tác ý, thì có nghĩa là không làm. Do vậy khi quan sát cái thân run, lắc của mình, Ngọc Liên thấy chuyện cái thân run hay lắc là chuyện của cái thân, và khi thân nó run và lắc thì tâm hay biết. Đó là chuyện của thân và tâm, Ngọc Liên chỉ là người quan sát, nhờ hiểu được như vậy nên NL vẫn giữ tâm quân bình theo dõi, quan sát xong rồi xả bỏ nên cũng chẳng thấy khó chịu gì cả.

Tiếp tục quan sát đến một lúc nào đó thì Ngọc Liên nhận thấy ngoài cái tâm hay biết của mình nó còn có cái tâm chánh niệm (tâm quan sát). Cái tâm này nó quan sát cái tâm biết và cái thân. Đến giai đoạn này thì ổn rồi, thân tâm làm gì thây kệ chúng, đó là chuyện giữa chúng với nhau, còn mình nắm lấy cái tâm chánh niệm, trở thành người quan sát, ghi nhận, thấy sao biết vậy, không thắc mắc gì hết. Quan sát xong xả bỏ. Đến đây thì Ngọc Liên hiểu lời Đức Phật dạy: “Hãy để cho thân đau chứ tâm không đau!”, một câu nói mà các hành giả TNX thường kháo với nhau. Tâm ở đây, dĩ nhiên là Đức Phật muốn nói đến tâm chánh niệm.

Như vậy thì hành thiền TNX xem ra có vẽ khổ thân, khổ tâm lắm, nhưng thực ra không khổ, vì hành giả không thấy tôi, ta trong khi quan sát phiền não và quan sát chúng bằng tâm xả. Do vậy, đối tượng quan sát có như thế nào đi chăng nữa cũng chẳng ảnh hưởng gì đến mình.

Tuy nhiên, hành thiền TNX sẽ rất khổ tâm và khổ thân nếu hành tập không đúng cách. Điều này hầu hết các hành giả mới đều gặp phải. Lấy kinh nghiệm bản thân của Ngọc Liên, lúc vừa mới thấy các pháp sanh diệt, rất tò mò nên thấy pháp gì nổi lên cũng tìm cách suy nghĩ, diễn giải. Hễ thấy nóng thì than: trời ơi sao nóng gì lạ lùng, khó chịu quá; mà lạnh thì lại nói: mát lạnh ghê, từ xưa đến giờ mình cứ nghe người ta nói từ mát lạnh, bây giờ mới thực sự hiểu mát lạnh là như thế nào; khi thấy các hạt chạy trong thân thì lại nói: hạt này to, hạt kia nhỏ, lúc này chạy theo hình hình chữ chi, lúc nọ chạy theo hình số tám, hoặc khi đối tượng không rõ thì lại đòi nó cho rõ… Đây là một điều cấm kỵ trong thiền TNX, vì hành giả chỉ được quan sát, không được suy diễn, phân tích, phê phán… Nếu làm như vậy pháp hành sẽ bị ô nhiễm và hành giả sẽ bị phiền não ngay lập tức. Chính vì vậy, Ngọc Liên thuận về gió nên thân đã rung lắc, lại thêm pháp hành bị ô nhiễm nên thân càng rung lắc hơn. Do vậy hành giả TNX hãy ráng đừng suy nghĩ và suy diễn.

Mình sẽ gặp một số người tu trước, tu trước nhưng chưa hẵn đã thấy được pháp, nhưng vì người ta tu trước mình nên người ta làm ra vẻ có kinh nghiệm hơn mình. Họ nói ráng ngồi cho lâu, để cho thân đau thì mới thấy được cái tâm, nhờ vậy mới mau tiến bộ trong pháp hành. Ngọc Liên đã từng làm theo lời khuyên như vậy và thấy rằng đây là một điều hoàn toàn không đúng. Ngồi đau quá, thân đau, tâm sân nổi lên, làm thân phản ứng, càng rùng lắc tợn hơn. Hơn nữa, ngồi thiền với tâm sân thì đâu có trí tuệ, mà không có trí tuệ thì làm gì có giải thoát.


Thiền TNX là thực hành theo con đường trung đạo, vì vậy chúng ta tu tập liệu làm sao cho vừa sức mình. Lúc đầu ngồi thử 15’, nếu đau qua chịu không nổi thì đứng dậy đi kinh hành, cứ tập cho cơ thể quen dần rồi tăng dần thời gian ngồi thiền lên từ từ. Đừng lo rằng ngồi ít quá, thân không đau sẽ không thấy được cái tâm. Thiền TNX vận hành có lớp, có lang, khi các pháp của thân đã vận hành đủ, thì các pháp của tâm khởi lên cho chúng ta quan sát. Cứ thế hết thân rồi tâm, tiếp tục như vậy. Có một giai đoạn Ngọc Liên bị té xe trầy đầu gối, không thể ngồi xếp bằng, phải ngồi thẳng lưng trên cái ghế, vậy mà chỉ cần ngồi 15’ là các trạng thái tâm (phiền não ngủ ngầm ) trào lên: kiêu mạn, hống hách đủ kiểu, vui đủ kiểu, buồn đủ kiểu, đau đớn đủ kiểu, khóc đủ kiểu, đểu cáng đủ kiểu, mệt mõi đủ kiểu, lường gạt thiên hạ đủ kiểu… tha hồ mà quan sát. Đây thật ra là những gì mà chúng ta đã từng làm trong quá khứ từ bao nhiêu đời kiếp trước, đúng như lời Đức Phật dạy, chúng không mất đi mà nằm sâu trong tàng thức của chúng ta, nay chúng ta có chánh niệm, nhìn vào thân tâm để quan sát, chúng trồi lên cho chúng ta xem.

Tóm lại nếu chúng ta tu tập vừa sức mình và thực hành quan sát phiền não theo đúng như lời Phật dạy thì thực hành TNX cũng OK.

Với sự chia sẻ của Kisagotami Ngọc Liên, hy vọng sẽ giúp giải toả được phần nào thắc mắc của Quế Chi cũng như giúp cho Quế Chi có quyết định đúng đắn khi chọn cho mình một lộ trình tu tập.

Chúc Quế Chi an vui.
Supanna 23/02/2010 13:26:15
Sư Phước Nhân trả lời cho Quế Chi:

Hành giả nhập định là để tạm thời đè nén năm pháp cái (tham dục, sân, thuỵ miên và trạo hối và hoài nghi) hay gọi chung là phiền não và tham ái- chỉ tạm thời đè nén chúng thôi chứ thật ra các phiền não và tham ái này vẫn còn y nguyên. Sau đó hành giả phải xả định, chuyển qua quán để phát triển các tầng tuệ Minh sát. Nhờ năng lực của định có sẵn đó mà chánh niệm của hành giả được dũng mãnh. Hành giả dùng chánh niệm sắc bén đó quan sát năm pháp cái đó để làm giảm nhẹ phiền não rồi tiếp tục phát triển chánh niệm và tỉnh giác cho đến khi chín mùi thì tâm đạo mới sanh lên để sát trừ phiền não - bứng tận gốc rễ phiền não.


Như vậy trong đạo lộ đạo quả có thiền, hành giả phải nhập định trước rồi mới phát triển quán sau thì việc diệt trừ năm pháp cái mới có hiệu quả tốt.

Đạo lộ đạo quả không thiền, tuy không nhập định nhưng cũng phải nhờ vào cận định.


Hành giả tu quán sau khi đắc Tu Đà Hườn (sơ đạo –sơ quả), đến đây cũng có thể ngưng thực hành quán để chuyển sang tu định và nhập định.

Hành tập theo kiểu này, khi mãn tuổi thọ, hành giả sẽ tái sanh vào cõi trời vô sắc. Với nền tảng sơ đạo sơ quả sẵn có, hành giả dựa vào đó để phát triển quán và đắc Niết bàn tại đây.


Tuy nhiên, các hành giả không có sơ đạo sơ quả, nếu sanh lên cõi trời vô sắc, sẽ không bao giờ chứng đắc được Niết bàn bởi vì chúng sanh ở cõi đó chỉ có danh (tâm) mà không có sắc (thân), vì vậy họ không có mắt để thấy Phật và không có tai để nghe Phật thuyết pháp.


Đức Phật sau khi đắc đạo quả muốn độ cho hai vị thầy của Ngài khi Ngài còn là một vị Bồ Tát là Alara Kalama và Uddaka, nhưng chư thiên cho biết hai vị thầy này đã tịch rồi. Đức Phật nói thật tiếc cho hai vị thầy này, do họ sanh lên cõi trời vô sắc nên họ không có mắt để thấy Phật và có tai để nghe Ngài thuyết pháp, do vậy họ không có cơ hội để chứng ngộ Giáo pháp của Đức Phật.


(Hành giả sanh về cõi trời hữu sắc (đắc từ sơ thiền đến tứ thiền) thì vẫn có đầy đủ ngũ uẩn, dẫ dàng gặp Phật để nghe Phật thuyết pháp. Họ vẫn có cơ hội gặp Chánh pháp, tu tập và đắc đạo quả.

Đức nói hành giả đắc được bát thiền ngũ thông so lại với hành giả đắc sơ đạo sơ quả của Tứ Niệm Xứ vẫn còn thua kém xa. Ngài dạy “ Đệ tử của Như Lai dễ duôi còn hơn ngoại đạo tinh tấn”. Đó là Đức Phật nuốn ám chỉ các bậc thánh Tu Đà Hườn.)
lan phuong 21/02/2010 20:34:05
Ngài Pa Auk giải thích về kinh Susima:

Susima đã nghe nói rằng nhiều vị A la hán đi đến Đức Phật và báo rằng họ đã đạt đến quả vị A la hán. Vì thế Susima mới hỏi các vị xem họ có tám thiền chứng và ngũ thông hay không? Các vị trả lời “Không”. “ Nếu quí vị không có tám thiền chứng và ngũ thông, các vị đạt đến A la hán quả như thế nào?” Lúc đó các vị A la hán trả lời: “Này hiền giả Susima, chúng tôi đạt đến sự giải thoát nhờ trí tuệ.” Susima không hiểu nổi điều này nên ông ta đã hỏi Đức Phật câu hỏi nêu trên. Đức Phật nói: “ Pháp Trú Trí đến trước, Đạo Trí lấy Niết Bàn làm đối tượng đến sau.”


Điều này có nghĩa là gì? Đạo Trí không phải là kết quả của tám thiền chứng và ngũ thông, mà nó là kết quả của các tuệ Minh Sát (Vipassana). Vì thế Đạo Trí chỉ có thể khởi lên sau khi các tuệ Minh Sát đã khởi lên; chứ không phải sau khi chứng bát thiền và ngũ thông. Trong bài kinh Sumina này, tất cả các tuệ (hay trí) Minh Sát đều muốn nói tới Pháp Trú Trí. Ở đây, pháp (các hiện tượng) là tất cả các hành (sankhara –dhamma), “pháp trú” có nghĩa là lấy các hành làm đối tượng, và trí là muốn nói tới trí hay tuệ minh sát. Như vậy Pháp Trú Trí là minh sát trí về tính chất vô thường, khổ và vô ngã của tất cả các hành, tức danh, sắc và các nhân của chúng.

Đoạn kinh trên cho thấy không ai nhập định mà đắc A la hán nếu họ không thoát ra định để chuyển sang quán.

Mục đích tu tập chúng ta là vượt qua năm triền cái (tham dục, sân hận, hôn trầm, thuỵ miên, trạo cử và hối hận và hoài nghi) để đạt tới Giác ngộ . Đức Phật dạy rằng đây là năm thứ cấu uế, nó làm cho tâm suy yếu “không dể uốn nắn, không dễ sử dụng, không chói sáng và vững chắc, không thể tập trung tốt vào việc đoạn trừ các lậu hoặc”

Có 2 cách để diệt trừ tận gốc các loại phiền não này:

1- Nhập định để tạm thời khống chế phiền não. Khi năng lực đủ mạnh thì thoát ra khỏi phiền não, chuyển qua quán, lấy phiền não làm đối tượng để quan sát nhằm phát triển trí tuệ Minh sát và bứng tận gốc rễ của chúng (Đạo lộ đạo quả có thiền)

2- Hành giả phát triển trí tuệ quan sát phiền não để phát triển trí tuệ Minh Sát mà không qua nhập định (Đạo lộ đạo quả không thiền)

Người có năng khiếu nhập định nên theo đạo lộ 1 vì trong khi hành giả tu thiền khô phải hàng ngày hàng giờ đối mặt với phiền não nhằm quan sát trong khi chánh niệm của mình còn yếu ớt (vì vậy nhiều khi bị phiền não làm cho "te tua") thì hành giả tu theo đạo lộ đạo quả có thiền nhập vào trong định để hưởng hỷ lạc của định. Khi định đủ mạnh thì xả định chuyển qua quán để phát triển trí tuệ Minh Sát để đối phó với phiền não. Nhờ năng lực mạnh nên chánh niệm của cũng họ mạnh, vì vậy họ có thể đối phó với phiền não dễ dàng, nhanh gọn hơn người tu thiền khô.

Lấy thí dụ phiền não là cái cây như sư Phước Nhân đưa ra để so sánh một cách ví von như sau:

Trời nắng gắt và người tu thiền khô phải ở ngoài nắng để bứng cái cây phiền não của mình. Do không có sức, nên người ấy phải ngắt từng chiếc rễ con một, rất tốn công và thời gian. Để bứng xong cái cây đó, người ấy có thể phải mất hàng tháng (ví dụ thôi)

Trong khi hành giả tu thiền khô phải trần thân ngoài nắng để lao động cực khổ thì hành giả tu theo đạo lộ có thiền ngồi trong quán cà phê wifi máy lạnh để tận hưởng. Khi thấy khi thấy đủ lực rồi thì mới nhào ra ngoài nắng và với sức lực của mình, người ấy có thể nhổ cái cây phiền não chỉ trong một vài ngày hoặc một vài giờ.

Điểm khác nhau giữa hai đạo lộ là như vậy.

Vấn đề là bạn có khả năng nhập thiền hay không và bạn có chắc là bạn sẵn sàng ra ngoài nắng gắt để nhổ cái cây lên khi bạn có thể không? Có nhiều người ở trong quán cà phê máy lạnh sung sướng rồi, họ chỉ muốn ở yên trong đó, họ ngại ra ngoài nắng gắt. Nhiều hành giả kẹt trong định không muốn chuyển qua quán cũng là vì lý do đó. Đang ở trong định hưởng hỷ lạc sung sướng, tự nhiên thoát ra định đối mặt với bao nhiêu phiền não trong thân, trong tâm của mình, thà là ở yên và trong định sướng hơn!
Quế Chi 21/02/2010 09:49:13
Tôi muốn tìm sự giải thoát và muốn thực hành Tứ Niệm Xứ. Dự tính sang năm sẽ cùng một người bạn sang Thái để học thiền với ngài Suphan. Trong lúc này tôi đang tìm hiểu về pháp môn này. Một vài người khuyên tôi rằng, nếu tu TNX, hãy chọn đạo lộ đạo quả có thiền, tu sẽ nhẹ nhàng lắm vì có hỷ lạc, còn tu theo đạo lộ đạo quả không thiền thì rất khổ tâm và khổ thân. Có đúng như vậy không? Tại sao tu theo con đường giải thoát của Đức Phật, để giải thoát mình khỏi đau khổ và phiền não mà khi tu tập lại khổ tâm và khổ thân. Đó là điều mà tôi thắc mắc.

Đạo lộ đạo quả có thiền đòi hỏi phải nhập định. Nếu định khó nhập quá, không thể nhập được, thì có thể vẫn chọn tu tập đạo lộ này, nhưng tu quán trước rồi tu định sau, có được không?
sunny blue 20/02/2010 17:31:05
Trong “Vượt qua chướng ngại” của ngài Pa Auk Sayadaw (tỳ kheo Pháp Thông dịch), trong phần hỏi và đáp trang 116, câu hỏi 8:

Theo những gì Sayadaw nói, thì để thực hành Vipassana trước hết chúng ta phải phát triển định thật vững mạnh, nhưng các vị A la hán đề cập trong Kinh Sunima không có ai chứng thiền (Jhana) cả, Sayadaw có thể vui lòng giải thích sự giải thoát nhờ tuệ là như thế nào được không?

Trả lời: “Giải thoát nhờ tuệ” là sự giải thoát đạt được bằng việc thực hành cỗ xe thuần quán (thuần quán thừa), không có bất kỳ thiền chứng nào. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng giải thoát ấy có thể đạt được mà không cần phải có định vững mạnh làm nền tảng. Những ai muốn đạt đến giải thoát đều phải thực hành thiền (phân tích) tứ đại, tức là phân tích các đặc tính của tứ đại nơi thân. Các đặc tính đó là: cứng, thô, nặng, mềm, trơn, nhẹ, lưu chảy, kết dính, nóng, lạnh, hỗ trợ và đẩy. Họ phải biết phân tích các đặc tính ấy cho tới khi thân của họ trở nên trong suốt hay (tiếp tục) để thấy những khoảng trống trong đó, họ sẽ thấy những phần tử rất nhỏ sanh và diệt một cách nhanh chóng. Lúc đó kể như họ đã đạt đến sát na định vững mạnh, định này có sức mạnh tương đương với cận định. Dựa trên sát na định vững mạnh này, họ phải phân tích thêm tất cả các loại phân tử nhỏ trong sáu môn và bốn hai phần của thân, để phân biệt tất cả sắc cùng tột trong mỗi loại phân tử nhỏ ấy. Rồi họ phải phân biệt thêm danh cùng tột đúng theo những tiến trình tâm nữa. Sau khi đã phân biệt danh sắc cùng tột bên trong và bên ngoài, họ phải phân biệt nhân của danh sắc. Lúc đó họ mới có thể hiểu danh sắc cả bên trong lẫn bên ngoài và các nhân của chúng là vô thương, khổ và vô ngã, cho đến khi họ đạt quả vị A la hán.

Vấn đề này được lập lại trong câu 37, trang 157: Nếu một hành giả thất bại trong việc hành thiền chỉ (Samatha) và muốn chuyển sang Vipassana, họ nên bắt đầu từ đâu?

Trả lời: Những hành giả hành thẳng thiền Minh sát (Vipassana) không có bất cứ một thiền chứng nào được gọi là “thuần quán hành giả” hay “khô quán hành giả” (sukkhavipassana). Trước tiên họ phải hành thiền tứ đại, vốn là một đề mục của thiền căn bản và bắt buộc cho mọi hành giả thuần quán. Với sự trợ giúp của định mạnh và vững chắc do hành thiền tứ đại đem lại, họ sẽ thấy tổn hợp các sắc (rupakalapas), hay các phần tử nhỏ của vật chất. Nhờ phân tích các kalapas và thể nhập vào sắc tối hậu (sắc chân đế) , họ phá vỡ được tính rắn chắc của sắc (vật chất). Kế đó họ phân biệt các căn xứ và đối tượng của danh cùng nhau để giúp cho việc quán các trạng thái tâm thiện và bất thiện. Sau đó họ phải phân biệt các nhân của danh và sắc và rồi quán danh sắc và các nhân của chúng như vô thường, khổ, vô ngã. Theo cách này thì minh sát trí của họ thuần thục, họ sẽ chứng ngộ Niết Bàn. Dĩ nhiên đây chỉ là một sự giải thích tóm tắt về sự thực hành của các hành giả thuần quán mà thôi.

Rõ ràng rồi phải không các bạn, những ai không nhập định được, cứ vững tin tu tập thiền khô. Giải thoát đang chờ những ai có niềm tin và sự tinh tấn!
Tiến Phát 19/02/2010 10:51:37
Tôi cũng có trong tay cuốn từ "Chánh niẹm đến Giải thoát". Phải nói cuốn sách có sức hút đối với các hành giả Tứ Niệm Xứ không những vì cái tựa sách mà còn vì tác giả là Ajhahn Brahm, một hành giả rất có khiếu nhập định và là học trò của ngài Ajahn Chah.
Sau khi đọc xong cuốn sách,thú thật tôi cũng thấy hoang mang về một số vấn đề ngài phát biểu,trong đó có nói đại loại Tứ Niệm Xứ không phải là một pháp môn tu tập riêng của Phật giáo v.v... và v.v... cũng như một số điểm liên quan đến pháp hành.
Rất may tôi có trong tay cuốn "Bản đồ hành trình tâm linh" của ngài U Jotika và tôi đã đọc lại, căn cứ vào đó cũng như một số kinh nghiệm trong pháp hành của bản thân,để xem xét cân nhắc.
Tôi thấy ngài U Jotika cũng nhập định như ngài Ajahn Bramhn,tuy nhiên đường lối thực hành của hai ngài có khácnhau.
- Ngài U Jotika sau khi thoát ra định và chuyển qua quán,ngài đã sử dụng sát na định để ghi nhận các pháp sanh diệt nhằm phát triển trí tuệ Minh Sát qua 16 tầng tuệ và cuối cùng là kinh nghiệm Niết Bàn.
- Mặc dù sau khi xả định,ngài U Jotika quán ngay tâm không qua niệm thân,nhưng các hành giả Minh Sát-mặc dù là tu theo đạo lộ thiền khô (khô tuệ) phải dựa vào thân đi lên để phát triển tâm, khi đọc cuốn sách của ngài,vẫn tìm thấy -không ít thì nhiều -những kinh nghiệm của mình qua kinh nghiệm của ngài khi phát triển qua các tầng tuệ.
- Ngài Ajhahn Bramh chỉ sử dụng hoàn toàn năng lực của an chỉ định trong quá trình tu tập cũng như "chứng đắc" của ngài. Ngài tuyệt nhiên không đề cập gì đến việc sử dụng sát na định, mà định của Vipassana lại là sát na định chứ không phải an chỉ định. Hành giả TNX nào cũng biết, chúng ta chỉ sử dụng sát na định trong quá trình hành tập mà thôi, chính sử dụng sát na định nên hành giả mới bám sát được các pháp sanh diệt biến đổi liên tục không ngừng trong pháp hành. Vì vậy,nếu chỉ sử dụng năng lực của định mà không sử dụng sát na định thì phương pháp hành tập tập đó chắc chắn không phải là Vipassana, và do đó, những gì mà hành giả thấy được qua định,cho dẫu làm cái tâm an tịnh tuyệt vời đến mấy,thì đó cũng không phải là Giải thoát Niết bàn (vì không thấy được sanh diệt làm sao có được trí tuệ Giải thoát!)
Quan điểm về chánh niệm của ngài AjahnBrahm cũng hơi khác,ngài khuyên chúng ta chỉ nên chú tâm phát triển những cảm xúc, suy nghĩ tốt đẹp,những ý nghĩ xấu, cảm xúc không đẹp thì bỏ qua.Đó không phải là một thái độ đứng đắn trong thực hành Tứ Niệm Xứ vì Đức Phật dạy chúng ta phải nhìn thẳng vào phiền não để diệt trừ tận gốc phiền não. Đối với người thực hành TNX, mọi pháp dù tốt dù xấu, đều là đề mục cho chúng ta quan sát, quan sát xong xả bỏ, không dính mắc tôi, ta trong đó. Chánh niệm theo quan niệm của ngài Ajhan Bramh theo tôi nghĩ nó hợp với các hành giả tu thiền định hơn quán, người tu định thường phớt lờ phiền não vì chúng làm cho họ trạo cử,không trụ tâm trên đề mục được.
Bản thân tôi nghĩ,nếu tôi không lầm, ngài Ajahn Brahm đã bị kẹt vào cái bẫy của an chỉ định,đây là điều mà rất nhiều thiền sư giàu kinh nghiệm,ngay cả ngài Ajahn Chah, thầy của ngài đã cảnh báo.
Vậy Supanna,Diệu Tịnh và các hành giả Vipassana khác nếu có đọc cuốn sách của ngài Ajahn Brahm và phát sinh hoài nghi thì hãy dẹp bỏ hoài nghi.Đừng vì một cuốn sách mà làm ảnh hưởng đến sự tu tập của mình.
Nếu muốn có mọt cuốn sách đáng tin cậy để tham khảo thì đó là cuốn Bản đồ hành trình tâmlinh. Kinh nghiệm của bản thân tôi cho thấy càng đi sâu vào pháp hành,hành giả sẽ thấy mình càng có nhiều kinh nghiệm giống như của ngaìU Jotika.
Diệu Tịnh 18/02/2010 08:36:36
Tôi cũng tu tập Tứ Niệm Xứ từ cận định không qua nhập định. Cách đây
chừng nữa tháng, tôi tình cờ mua cuốn "Từ chánh niệm đến giác ngộ" và
đọc xong tôi cũng vô cùng hoang mang. Dự định sẽ tìm hiểu nhưng chưa
có dịp thuận tiện. Nay đọc được bài phỏng vấn sư Phước Nhân của
Supanna, tôi cảm thấy mọi sự thật rõ ràng và rất phấn khởi. Bài viết
này giúp tôi thêm sự tin tưởng cũng như sự tinh tấn. Tôi tin rằng bài
viết này cũng sẽ tiếp sức rất nhiều cho những hành giả tu tập Tứ Niệm
Xứ khác theo đạo lộ thiền khô như tôi.
Cám ơn sư Phước Nhân và Supanna. Nhân dịp đầu năm chúc sư và Supanna
dồi dào sức khoẻ và tiến tu đồng thời có thêm nhiều bài viết hữu ích
khác cho mục Tứ Niệm Xứ của PTVN
tổng cộng: 7 | đang hiển thị: 1 - 7
Tên người gửi:
Địa chỉ mail:

Bộ gõ tiếng Việt Bật Tắt
Captcha
  • email Gửi bài viết này cho bạn bè
  • print Xem dưới dạng bản in
  • Plain text Xem dưới dạng thuần văn bản
Thông tin tác giả
image Supanna